| Vấn đề phát triển bền vững trong việc khai thác các khu cồn cát ven biển vào mục đích du lịch |
|
|
|
| Người đăng: Administrator | |
| 17/07/08 13:29 | |
|
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt nam đã không ngừng phát triển. Mỗi năm đều có thêm nhiều dự án mới khai thác các khu tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh để đưa vào kinh doanh. Bờ biển Việt nam với hơn 3000km chiều dài là một kho tài nguyên quý báu cho các loại dịch vụ du lịch. Những dải bờ biển từ miền trung trở vào, với mặt nước xanh trong, bãi cát trắng dài, một bên là biển cả, một bên là dải trường sơn hùng vĩ, nhiệt độ ấm áp quanh năm, tiềm chứa rất nhiều địa điểm thuận lợi để xây dựng khách sạn, ressorts ven biển. Tại các vùng ven biển, đặc biệt những vùng có bãi cát thì ảnh hưởng của sóng biển và các dòng chảy gần biển là một khía cạnh quan trọng cần nghiên cứu, vì ở đây cát là một trong những yếu tố chính của địa hình và cảnh quan, mà cát lại là những phần tử bị chuyển vận bởi sóng. Ta biết rằng sóng trên đại dương do gió thổi mà thành, nhưng ở ngoài khơi xa, sóng không làm ảnh hưởng được đến tầng đáy đại dương vì nó chỉ vận động trên mặt nước. Nhưng khi vào gần bờ, tại những vùng nước nông, đặc biệt có các mũi đá ngầm nhô cao thì sóng tăng tốc nhiều lần và có sức công phá lớn đối với khu vực đáy. Tại đây, sức nước bào mòn phần đáy, đập vụn các thành phần đất thành những hạt nhỏ, cộng với phù sa, hạt đất cát từ các sông đưa ra tạo thành một lớp bề mặt không cố định mà phần nổi khỏi mặt nước ven bờ ta quen gọi là bãi cát ven biển. Sóng biển có ảnh hưởng lớn đến lớp đáy cát này, chúng có thể bồi thêm, cuốn đi, chuyển vận lớp này từ một vùng sang vùng khác, từ ngoài vào đất liền hoặc ngược lại. Những vận động này sẽ dẫn đến sự biến đổi cảnh quan của bờ biển, có những chỗ sẽ được bồi đắp, những chỗ sạt lở, những chỗ sâu thêm hoặc nông đi v.v. Biến động thứ nhất là sự vận động của cát dọc theo bờ biển (Longshore movement). Ta biết rằng khi sóng đánh vào bờ thì một phần cát bị cuốn lên khỏi đáy và lơ lửng trong nước. Thông thường thì sóng không đánh vuông góc với bờ mà chênh chếch, do đó những hạt bị cuốn lên này sẽ được vận chuyển đi một đoạn dọc theo bờ biển rồi mới lắng xuống. Qua nhiều con sóng thì sẽ tạo ra một vận động dịch chuyển của cát dọc theo bờ biển. Gió đổi chiều theo mùa, chẳng hạn mùa nam, mùa bấc, nên thường mỗi mùa, cát lại được vận động theo một chiều khác, khiến cho bãi biển giữ được phần nào ổn định. Thế nhưng không phải gió mùa nào cũng như nhau. Có những nơi gió hướng này mạnh hơn, lâu hơn gió hướng kia nên cuối cùng thì sau mỗi năm, cát lại dịch chuyển thêm một chút về một hướng (Net longshore transport). Như vậy, về lâu về dài, có những đoạn bờ biển sẽ thường xuyên mất cát và những đoạn khác thường xuyên được bồi. Quy luật này rất quan trọng đối với những bãi biển nhiều đá mà nhà đầu tư muốn đổ thêm cát hoặc phá đá ngầm. Biến động thứ hai xảy ra ở vùng bờ cát là hiện tượng cát bị sóng gió đánh bồi vào bờ hoặc bị kéo từ bờ ra. (Inshore transport) Tại từng vùng nhỏ bờ biển, nếu ta tính tổng lượng cát bị dịch chuyển dọc theo bờ biển ở đó và lượng cát bị sóng gió vận chuyển vào đất liền hoặc lôi ra, ta sẽ có được dự đoán về tình hình biến động bồi lở ở ven biển chỗ đó (Sediment mass balance). Nếu ước tính được con số này, ta mới có thể xác định một đoạn bờ biển trong thời gian dài sẽ được bồi thêm hay lở đi. Do vậy, chúng ta cần phải có một bản đồ dự báo chi tiết tình trạng bồi lở bờ biển trong vòng ít nhất 30 năm và thường xuyên chỉnh sửa khi có các công trình nhân tạo ven biển. Do vậy, cảnh quan ở đây thay đổi luôn, có thể là sau 4-5 năm, hoặc 10-20 năm, vì không phải lúc nào cũng có những đợt gió bão lớn. Sự biến động này tạo cho cảnh quan những vùng này nét hoang sơ đặc trưng, và cũng là những nét hấp dẫn nhất đối với du khách. Thế nhưng, chúng ta đều biết là sự biến động này không hợp với tính toán của các nhà đầu tư luôn muốn tránh mọi rủi ro. Do đó ở mọi nơi trên thế giới, người ta tìm mọi cách ngăn chặn biến động này, bằng những biện pháp chính là ngăn chặn nguồn cung cấp cát cho các cồn cát và ngăn chặn gió. Điều đó dẫn đến sau một thời gian, cây cối phủ xanh khắp nơi và những khu này trở nên ổn định hơn, xanh tốt như rừng nhiệt đới. Tuy nhiên, ngoại trừ việc tốn kém ra, ngày nay người ta không còn ủng hộ các giải pháp này nữa, vì chúng biến hệ sinh thái động, hoang sơ, đặc biệt của cồn cát thành hệ sinh thái tĩnh có thể gặp ở bất cứ đâu, không còn những sóng cát trắng tinh, không còn tầm nhìn ngút ngàn như trên sao hỏa. Phương hướng trong tương lai là làm sao dự đoán được những biến động cảnh quan của cồn cát và lựa theo đó làm những việc phù hợp. Để có thể phần nào hiểu được biến động của một vùng cồn cát trong quá khứ, người ta có thể quan sát lớp thực vật gần đó. Thông thường, ta sẽ thấy càng xa bờ biển, những cây cối cao tuổi càng nhiều lên. ở những vùng chỉ thấy xuất hiện dạng cây bụi dưới 25 năm tuổi là những vùng trong khoảng thời gian trước 20 năm đã chịu thiên tai lớn, khiến cho cây cối không trụ được. Những vùng này nói chung chưa đủ ổn định để có thể xây dựng lâu dài. Đối với khu vực bãi cát sát ven biển, là nơi chịu tác động chủ yếu của sóng và các hoạt động vận chuyển phù sa, tác động chính của con người là ở những việc ngăn đê đắp đập, làm phà làm cảng, nuôi tôm nuôi cá, ảnh hưởng đến dòng chảy và nguồn phù sa. Tác động thứ hai của con ngừoi là phủ xanh khu vực này, khiến cho cát không được vận chuyển tiếp lên các cồn cát, biến những cồn cát này thành đồi cát tĩnh. Những tác động này trên phương diện sinh thái cảnh quan nhiều người cho là không chấp nhận được. Nhưng về mặt kinh tế, trước nhu cầu ngày càng cao của du lịch và sinh sống ven biển thì cũng có thể xem xét. Tuy nhiên, để có thể hạch toán kinh tế cho đúng, cần phải xét đến độ rủi ro rất cao của vùng này trước nguy cơ thiên tai, sóng thần, dù chỉ là vài chục năm, thậm chí trăm năm một lần. Cần phải có hệ thống dự báo thiên tai rất hiện đại mới có thể hạn chế phần nào rủi ro này. Riêng đối với khu vực đụn cát dốc phía trong một chút thì ảnh hưởng của con người đa dạng và nguy hiểm hơn. Thứ nhất là việc chặt phá cây rừng để lấy mặt bằng xây dựng hoặc tạo khoảng trống cho tầm nhìn. Việc này sẽ để lộ những vùng cát yếu trước sức công phá của gió và dễ dàng dẫn đến cát bay chỗ này, bồi chỗ kia. Ở nhiều nơi, người ta tưởng sau khi xây dựng, chỉ cần trồng lại cây xanh là xong, nhưng riêng ở địa hình này, vấn đề lại không đơn giản như vậy. Thứ nhất là các cây cảnh, cây bóng mát ưa chuộng rất khó bám rễ và phát triển ở đây, vì phía dưới toàn cát không có chất dinh dưỡng, phía trên thì gió mạnh, nắng gắt. Thứ hai là khi trồng cây, người ta phải thường xuyên tưới nước, mà chính nước tưới này là một nguồn nguy hiểm dẫn đến sụt lở các đụn cát, vì cát chỉ cần một mạch phá rất nhỏ là sẽ theo đó chảy tiếp. Chính việc trồng cây phủ xanh do đó là một nguyên nhân lớn dẫn đến sụt lở, sói mòn. Đây là một điểm rất khác với các vùng đồi trọc nhưng có nền đất vững. Việc thứ hai là những con đường giao thông xẻ vào đụn cát sẽ tạo điều kiện cho gió tác động gây sói mòn, sụt lở ăn sâu vào đất liền. Việc thứ ba là những diện tích xây dựng và phủ bê tông sẽ dẫn đến việc tích nước bề mặt tại một số rãnh tập trung, gây sói mòn. Thứ tư là hệ thống nước thải, trong đó quan trọng nhất là nước WC và nước tắm, là một nguồn gây sụt lở, sói mòn đáng kể. Những nước thải này cũng là một nguồn gây ô nhiễm rất đáng sợ. Không có gì làm mất hứng du khách hơn là những cống nước thải từ các khu khách sạn đổ thẳng ra biển. Mà nước thải thì lại khó mà đổ đi đâu được, vì diện tích để xử lý thường không có, và đất cát thì không có khả năng lọc nước thải tốt, nên các nước thải từ hố ga khi ra đến biển vẫn rất bẩn.Thứ năm là những bể, hồ nước nhân tạo trên núi, bình thường thì không sao, nhưng nếu xảy ra thủng, vỡ cũng là một mối họa sụt lở cát trong chớp nhoáng. Thứ sáu là những dạng chòi ngắm cảnh nhỏ, có chân cắm trong cát, khi bị gió lay sẽ ngoáy xuống làm lỏng nền cát và gây sụt cát. Thứ bảy là việc làm những con đường giao thông dọc theo bờ biển cắt giữa đụn cát rất dễ gây sụt lở vì ở đây, việc kè taluy không đơn giản như ở những vùng đất đồi vững chắc vốn có tính kết dính tự thân cao. Chỉ cần bờ kè bị phá một chỗ rất nhỏ do mạch nước ngầm gây ra là cát sẽ trôi như lũ và cuốn phăng bờ kè. - Sau đó, phải dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản để tìm cách dự báo quy luật biến đổi cảnh quan ở từng nơi. Kết quả của quá trình này cũng là một dạng bản đồ số với những dự báo, có thể thường xuyên cập nhật. - Bước thứ ba là bên quy hoạch phải đề xuất được hình thức sử dụng thích hợp nhất và những điều tuyệt đối cần tránh đối với từng loại cảnh quan, từng vùng đất trên bản đồ. - Bước thứ tư là lấy thông tin về những dự án đầu tư, để biết được nhu cầu và định hướng của các doanh nghiệp ở từng khu vực. - Bước thứ 5 là so sánh, đối chiếu nhu cầu này với đề xuất về công năng tối ưu và những điều cần tránh xem có phù hợp không. Nếu có chênh lệch, bên quy hoạch sẽ phải cùng với nhà đầu tư thương lượng xem có thể chuyển đổi mục đích sử dụng được không. Nếu không thì phải có những giải pháp đặc biệt nào và mức độ đầu tư, độ rủi ro làm sao. - Nhìn chung, ở những khu vực cồn cát ven biển không nên xây dựng những công trình quy mô quá lớn. Đặc biệt ở vùng triền dốc phải tuyệt đối hạn chế sử dụng nước và phải quy hoạch hệ thống nước thải thật tốt. Đối với hình thức kiến trúc nên làm nhỏ nhẹ, chia tách khối, không dùng móng sâu, vật liệu nặng. Theo tôi, vì quan điểm ở đây phải rất chú trọng đến môi trường, không chỉ trên phương diện ý thức hệ, mà do nhu cầu cấp thiết nên chúng ta nên đi về hướng kiến trúc sinh thái, kết hợp việc bảo tồn môi trường sinh thái với những vấn đề khác như vật liệu tự nhiên, tỷ xích thân mật, tiết kiệm năng lượng, hòa hợp thiên nhiên v.v. Tất nhiên không phải khách du lịch nào cũng thích trường phái này, nhưng ta cũng phải hiểu rằng những địa hình này không phải loại thông thường mà là loại rất đặc biệt, cần có giải pháp đặc biệt và phục vụ những đối tượng đặc biệt. (Theo VPC) |













Nếu chúng ta không có những biện pháp dự báo, bảo tồn, quy hoạch và
xây dựng thật hợp lý thì không những cảnh quan thiên nhiên bị phá vỡ
không thể cứu vãn được, mà tài sản, tính mạng con người cũng thường
xuyên bị đe dọa. ở Mỹ, trong nửa cuối của thiên niên kỷ vừa qua đã có
không biết bao nhiêu tai họa xảy ra với các khu ven biển này, gây thiệt
hại lớn về tiền của và tính mạng con người. Chính phủ liên bang Mỹ đã
phải đưa ra bộ lụât riêng gọi là Luật quản lý các vùng bờ biển năm 1972
để điều tiết việc quy hoạch khai thác bờ biển. Tuy nhiên, vì nhiều khu
đã xây dựng nên các biện pháp chủ yếu là dự báo thiên tai và các biện
pháp phòng chống, nhưng trong vài thập kỷ vừa qua vẫn tỏ ra không hịêu
quả mà rất tốn kém.
