NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG TẠO GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Trang chủ Năng suất chất lượng Suy nghĩ về năng suất, chất lượng  
WWW.NANGSUATCHATLUONG.VN  (07/02/2012)
MENU CHÍNH
Trang chủ
Giới thiệu - Thông báo
Tin tức
Minh Quân và Năng suất
Kinh doanh và Quản lý
Năng suất chất lượng
Giám định Chứng nhận
Nông nghiệp Chất lượng cao
Môi trường Chất lượng
An toàn Vệ sinh Lao động
Vệ sinh An toàn Thực phẩm
Lean6Sigma, Kaizen, TPS
Tư vấn Tiêu dùng Chất lượng
Logistics, Chuỗi cung ứng
Tư vấn quản lý doanh nghiệp
Đào tạo cải tiến năng suất
Đào tạo Tư vấn Thực hành
Trẻ Khỏe Đẹp Hạnh phúc
Tải tài liệu miễn phí
Thư viện khoa học quản lý
Tập đoàn đa quốc gia
Thư viện ảnh
Giải trí
Trang tin điện tử hữu ích
Tuyển dụng
Liên hệ
TÀI LIỆU MỚI
TÀI LIỆU TẢI NHIỀU
THỐNG KÊ
mod_vvisit_counterHôm nay400
mod_vvisit_counterHôm qua786
mod_vvisit_counterTuần này1186
mod_vvisit_counterTháng này3938
mod_vvisit_counterAll554446
Hiện có 446 khách và 1 thành viên trực tuyến
Suy nghĩ về năng suất, chất lượng PDF. In Email
Người đăng: Administrator   
28/06/08 08:24

kinh-te-phat-trien.gifTrong môi trường phức tạp ngày nay, muốn bảo đảm hiệu qủa sản xuất kinh doanh, phải biết tính toán, so sánh định lượng nhiều phương án và chọn ra phương án tối ưu (tốt nhất). Nhiều vấn đề quản lý, sản xuất, kinh doanh phức tạp, ngay nhà quản lý giàu kinh nghiệm cũng khó đưa ra được giải pháp tối ưu, nhưng bằng tư duy logic và các phương pháp toán học thích hợp người ta có thể phân tích, so sánh định lượng, tìm ra giải pháp, nếu chưa tối ưu thì ít ra cũng tốt hơn phương án trực giác thông thường.

1. Nước ta được xếp vào hàng các nước đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên phân tích kỹ các nhân tố tăng trưởng cho thấy chất lượng tăng trưởng kém. GDP tăng chủ yếu do tăng đầu vào (input), tức là tăng lao động, vốn, tài nguyên, chứ phần tăng do áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và tri thức quản lý kinh doanh để khai thác vốn, tài nguyên với hiệu suất cao thì còn quá ít. Nói cách khác, năng suất tổng hợp của toàn bộ yếu tố sản xuất (total factor productivity, TFP) rất thấp. Phần trí tuệ, phần chất xám đóng góp vào tăng trưởng chưa được bao nhiêu. Có nghĩa là ta còn chưa thoát khỏi hình thái kinh tế tài nguyên, trong khi thế giới đã bước sâu vào kinh tế tri thức. Cứ tiếp tục tăng trưởng kiểu đó thì về lâu dài chắc chắn ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

Do đó, để thành công trong công cuộc hội nhập vấn đề năng suất và chất lượng đang đặt ra hết sức gay gắt với chúng ta.

Bằng nhiều cách phải chuyển dần từ phát triển kinh tế bằng chủ yếu tăng đầu vào sang phát triển bằng chủ yếu tăng hiệu suất, từ phát triển dựa chủ yếu vào tài nguyên vật chất sang phát triển dựa chủ yếu vào chất xám, vào tri thức khoa học, công nghệ, quản lý. Điều này cũng có nghĩa là phải tich cực chấn hưng giáo dục, phát triển khoa học, để nâng cao mặt bằng dân trí và trình độ lành nghề của đội ngũ lao động ở mọi cấp và mọi ngành.

Thật ra không phải vì tiềm năng tí tuệ của ta quá thấp, không cho phép chúng ta đầu tư chất xám nhiều hơn. Nguyên nhân chính là do trong phát triển kinh tế chúng ta chưa coi trọng đúng mức năng suất và chất lượng, chưa xây dựng được cơ chế khuyến khích mạnh mẽ năng suất và chất lượng.

Không nói gì đên các doanh nghiệp Nhà nước, đang còn bị chi phối nặng nề bởi cách quản lý bao cấp quan liêu, ngay cả nhiều doanh nghiệp tư nhân cũng làm ăn chủ yếu lấy công làm lãi, hoặc dựa vào khai thác đặc lợi, chứ chưa thật nỗ lực nâng cao năng suất và cải tíến chất lượng, tìm kiếm thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới, phát triển công nghiệp chế tạo để thay thế dần lắp ráp, gia công. Thành phố HCM là đầu tàu công nghiệp cả nước cũng vẫn còn đứng ngoài rìa nền kinh tế tri thức của thế giới.

2. Chúng ta đang sống trong một thời đại được đặc trưng bởi tốc độ tăng cực nhanh của ba yếu tố:

1) Khối lượng tri thức, thông tin (giữa thế kỷ 17 mới có 2 tạp chí khoa học quốc tế; giữa thế kỷ 18 có 10 tạp chí; giữa thế kỷ 19 có 1000 tạp chí, cách đây 20 năm đã có trên dưới 10 vạn tạp chí) ;

2) Mức độ phức tạp của các tổ chức, các hiện tượng (quy mô, chiều sâu, mức đa dạng, mức phi tuyến);

3) Tính bất định, bất ổn (khó lường, khó dự đoán, nhiều ẩn số, nhiều ngẫu nhiên). Trong tình hình ấy, năng lực tư duy nhạy bén và khả năng xoay xở, thích ứng mau lẹ có ảnh hưởng quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp. Cái hôm qua là tiên tiến, hôm nay có thể không còn hợp thời và ngày maỉ có thể trở thành lạc hậu, phải đào thải. Điều đó không chỉ đúng với máy móc, thiết bị, của cải vật chất, quy trình công nghệ, mà cả với những thói quen, cách suy nghĩ, sở thích, quan niệm sống của con người. Không có gì bất di bất dịch, cũng không có ưu thế nào có thể giữ mãi mà không bị thách thức. Khoa học hiện đại đã khám phá những cơ chế hình thành cái phức tạp, cực kỳ phức tạp, cái hỗn độn, cái không hoặc khó đảo ngược từ những cái ban đầu rất đơn giản (tham nhũng, tai nạn giao thông trong xã hội ta đều có thể lý giải theo quan niệm khoa học đó). Cho nên hiệu quả hoạt động dù trong lĩnh vực nào cũng phụ thuộc cơ bản vào khả năng đi trước thời gian, dự đoán xu thế sự vật và chuẩn bị đối sách cho mọi tình huống, thuận lợi cũng như bất trắc. Khôn ngoan là phải luôn luôn ở tư thế sẵn sàng, không bao giờ chủ quan, tự mãn. Bài học thường được nhắc tới là ngay đến một hãng nổi tiếng nhìn xa trông rộng như IBM mà gần hai thập kỷ trước đã từng lao đao vì đoán sai hướng đi của công nghiệp máy tính, tập trung lo máy tính lớn trong khi vi tính cá nhân đã bắt đầu lên ngôi. Người ta cũng chưa quên việc công nghiệp điện tử Nhật vì mải mê truyền hình độ phân giải cao mà phải trả giá đắt khi đi vào kỹ thuật số. Gần đây hơn, cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, rồi sự sụp đổ các dot.com hồi 2000, sự thăng trầm của các hãng địên thoại di động lớn: Motorola, Nokia, Samsung, v.v..., đều cho thấy xu thế toàn cầu hoá có thể tạo nhiều cơ hội mới để phát triển, đồng thời cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Khác với trước, bây giờ đối thủ lắm khi vô hình, vận may hay tai họa đều có thể do tác động tổng hợp của rất nhiều nguyên nhân phức tạp, có khi xa xôi không ai ngờ. Đặc biệt, với vai trò tăng lên đến mức thống lĩnh của tài chính quốc tế, chỉ trong vài năm nhiều doanh nghiệp nổi tiếng lâu đời như hãng đồ điện gia dụng Moulinex của Pháp, một thời làm ăn rất phát đạt nhưng bước vào toàn cầu hoá đã từ từ suy sụp rồi cuối cùng phá sản, do không thích ứng nổi với môi trường tài chính tự do hoá.

3. Dù thế nào, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu và ta không có sự lựa chọn nào khác là phải mạnh dạn đi vào kinh tế tri thức để hội nhập thành công. Tại một diễn đàn "Thương hiệu toàn cầu" vừa qua, ông Lý Quang Diệu, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Singapore, đã nói rất chí lý rằng chính trực và sáng tạo là bửu bối ông trao lại cho người con vừa mới nhận chức Thủ Tướng để đưa đất nước Singapore tiếp tục tiến lên. Soi lại hoàn cảnh của ta cũng có thể thấy rõ hai đức tính mà xã hội ta rất cần tăng cường rèn luyện cho thanh niên để có thể thành công trong hội nhập cũng chính là trung thực và sáng tạo. Lý do đơn giản là trong cuộc cạnh tranh thời kinh tế tri thức, chiến thắng chỉ dành cho những ai làm ăn trung thực, biết coi trọng chữ tín, đồng thời năng động, có nhiều ý tưởng mới, nhiều sáng tạo. Đó là luật chơi mà cũng là văn hoá kinh doanh thời nay. Người ta bảo con cá vàng chỉ có trí nhớ 3 giây thôi, nhờ thế nó mới có thể tung tăng bơi lội suốt ngày đêm trong bể cá chật hẹp mà không chán. Còn người tiêu dùng ở thời kinh tế tri thức, có trí nhớ dai hơn nhiều, họ rất mau nhàm chán với những thứ ít thay đổi, cho nên cái gì dù tốt, dù hay mà cứ lặp đi lặp lại nguyên xi cũng dễ biến thành nhạt nhẽo. Ăn chắc mặc bền chỉ là phương châm lúc kinh tế suy thoáì kéo dài, còn bình thường người tiêu dùng hiện đại thích thời thượng, khiến cho trong hầu hết mọi lĩnh vực, quá mốt nhiều khi cũng tệ hại chẳng khác gì quá đát. Một nhãn hiệu hàng hoá (như địên thoại di động), dù hấp dẫn và được ưa thích nhiều, nhưng chỉ cần dừng lại quá lâu không thay đổi mẫu mã thì rồi thị phần cũng teo dần, nhường bớt cho những đối thủ biết chiều cái tâm lý chuộng thời thượng của người tiêu dùng.

Muốn cải tiên công nghệ, nâng cao năng suất phải có tri thức nhưng nhiều khi chỉ cần giàu trí tưởng tượng cũng có thể thành công. Khi Xerox sáng chế ra máy photocopy để thay thế giấy than và đưa bán sáng chế này cho một hãng lớn thì hãng này đã từ chối, cho rằng nhu cầu thay thế giấy than không lớn, chẳng bõ đầu tư. Thì ra, do thiếu sức tưởng tượng, người ta đã không đoán thấy trước tất cả công dụng của máy photocopy, rồi từ photocopy đến máy fax, và biết bao công dụng khác nữa, đến nỗi bây giờ không ai có thể hình dung cuộc sống hiện đại thiếu máy photocopy. Thành thử đầu óc tưởng tượng không chỉ cần để có những sáng chế mới mà còn rất cần để đi trước thời gian, nhìn thấy trước những công dụng mới, những nhu cầu mới sẽ xuất hiện hay có thể chủ động tạo ra, sau khi một sáng chế mới ra đời. Internet, web, điện thoại di động, truyền thông không dây, v.v. tất cả những thứ đó đâu phải khi mới ra đời người ta đã nhìn thấy được hết ngay mọi công dụng. Phải có sự động não của bao nhiêu con người không chỉ suy nghĩ sáng tạo về kỹ thuật, công nghệ, mà còn vắt óc tưởng tượng ra đủ thứ tình huống mở rộng phạm vi ứng dụng của từng phát minh. Ta đi sau, có thể khó có ngay nhiều phát minh, sáng chế về kỹ thuật, công nghệ, nhưng với trí tưởng tượng tốt hoàn toàn có thể nghĩ ra được những cải tiến nhỏ để giúp ta nắm vững hơn công nghệ mới, và nhất là tạo ra những nhu cầu mới, những ứng dụng mới, từ đó mở ra những thị trường mới (như " IC thông minh" của Nguyễn Tử Trí chẳng hạn). Thật đáng buồn, mỗi dịp Tết Trung thu đến, thị trường đồ chơi trẻ em tràn ngập hàng TQ, mà sản phẩm của họ đâu có gì cao siêu, chẳng qua họ hơn ta một số ý tưởng và luôn tìm cách cải tiến, thay đổi mẫu mã, kiếu dáng để hấp dẫn hơn. Chỉ một chút chất xám mà tăng được giá trị, sao không chịu khó nghĩ ra mà cứ mơ màng những thứ đâu đâu.

4. Trong môi trường phức tạp ngày nay, muốn bảo đảm hiệu qủa sản xuất kinh doanh, phải biết tính toán, so sánh định lượng nhiều phương án và chọn ra phương án tối ưu (tốt nhất). Nhiều vấn đề quản lý, sản xuất, kinh doanh phức tạp, ngay nhà quản lý giàu kinh nghiệm cũng khó đưa ra được giải pháp tối ưu, nhưng bằng tư duy logic và các phương pháp toán học thích hợp người ta có thể phân tích, so sánh định lượng, tìm ra giải pháp, nếu chưa tối ưu thì ít ra cũng tốt hơn phương án trực giác thông thường. Đã có những ngành khoa học, như vận trù học, lý thuyết hệ thống, lý thuyết tối ưu, phân tích dãy, v.v... cung cấp những công cụ khoa học để phân tích các tình hưống, các vấn đề phức tạp về tổ chức quản lý, kế hoạch sản xuất kinh doanh, phân bổ vốn đầu tư, kiểm tra chất lượng, v.v... Sử dụng những công cụ khoa học ấy có thể giúp nâng cao năng suât, chất lượng, hạ giá thành, tránh những quyết định vội vã, thiếu cơ sở khoa học, thường gây ra thiệt hại và có thể dẫn đến thất bại, như đã từng xảy ra trong ngành mía đường, xi măng, và nhiều kế hoạch đầu tư kém hiêu quả đang để lại những di chứng nặng nề cho nền kinh tế.

Trước đây, do các phương pháp khoa học đòi hỏi tính toán khá phức tạp, nên chỉ có những hãng lớn mới có đủ phương tiện tinh toán và chuyên gia để vận dụng được. Nhưng ngày nay những tiến bộ lớn về máy tính, đặc biệt là vi tính, đã cho phép các phương pháp ấy được sử dụng phổ biến ngay ở các doanh nghiệp nhỏ hoặc trung bình. Thậm chí trong nhiều trường hợp đã có phần mềm cho từng loại vân đề để có thể sử dụng online.

Thời nào làm ăn mà không biết tính toán cũng dễ phá sản. Nhưng đặc biệt thời kinh tế tri thức, khi mọi người đều làm ăn có suy tính khoa học, sân chơi không còn chỗ cho những doanh nghiệp làm ăn luộm thuộm, không tính toán mà chỉ đơn thuần dựa theo kinh nghiệm và trực giác, tuy rằng hai thứ này vẫn rất cần thiết cho nhà doanh nghiệp tài năng. Kinh nghiệm cho thấy nhiều trường hợp công nghệ, thiết bị của ta không đến nỗi quá thua kém, nhưng năng suất, chất lượng vẫn kém xa, chỉ vì cách làm ăn thiếu đầu óc tổ chức khoa học. Hơn nữa, nhiều trường hợp cũng chưa đòi hỏi tính toán gì ghê gớm, chỉ cần có chút quan tâm, nghiên cứu hợp lý hoá tổ chức hoặc quản lý cũng đã có thể tăng năng suất đáng kể. Chẳng hạn, theo tin các báo, một nghiên cứu ở TPHCM cho thấy cũng là những người lao động đó, song lúc còn ở Công ty Dệt Việt-Thắng thì bình quân mỗi người chỉ đứng từ 8-10 máy dệt, song qua làm việc tại Công ty liên doanh Choong Nam-Việt Thắng thì đứng được từ 25-30 máy . Một ví dụ khác là sáng kiến rút ngắn thời gian bảo trì xe ở trung tâm Toyota Bến Thành từ 240 phút xuống còn 60 phút ("Thời báo Kinh tế Sàigòn", 27/5/2004), không phải do đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, mà chỉ nhờ tổ chức lại quy trình cho hợp lý (bằng cách quay phim toàn bộ quy trình, sau đó phân tích băng hình để phát hiện thời gian chết cần giảm thiểu). Nói chung đối với một quy trình gồm nhiều khâu song song lẫn nối tiếp theo kiểu mạng lưới thì bao giờ cũng có thể phân tích theo phương pháp khoa học ("phương pháp đường găng") để giảm thiểu thời gian chết và rút ngắn tổng thời gian hoàn thành cả quy trình. Còn về chất lượng, nếu một quy trình gồm nhiều khâu trung gian nối tiếp (5 khâu chẳng hạn), mà chất lượng ở mỗi khâu đạt 95% thì chất lượng cuối cùng chỉ đạt (95%)5 » 77%, chứ không phải 95% như nhiều người tưởng. Không chỉ ở các xí nghiệp sản xuất, mà cả ở các tổ chức dịch vụ như bưu điện, bệnh viện, v.v.., do không biết tổ chức khoa học các quy trình cho nên thường gặp rât nhiều cảnh tượng làm việc luộm thuộm, bất hợp lý, ảnh hưởng không ít đến năng suất và hiệu quả lao động, không phải chỉ riêng của ngành ấy, đơn vị ấy mà của cả những ngành, những đơn vị liên quan.

Nói về áp dụng các phương pháp khoa học trong kinh doanh tưởng cũng xin kể thêm một bài học cách đây không lâu ở sân bay Nội Bài. Theo tin trên các báo, ngày 27/6 có 29 hành khách của một chuyến bay từ Hà Nội đi TPHCM phải chuyển sang đi chuyến bay sau đó 4giờ rưỡi (mà rồi chuyến bay này đến giờ chót lại cũng phải hoãn đến hôm sau), khiến nhiều hành khách bất bình mặc dù mỗi người đã được đền bù thiệt hại 300.000 đ. Nguyên nhân, theo giải thích, là do áp dụng chiến lược mỗi chuyến bay có thể bán thêm 10% vé trên tổng số ghế, cho nên hôm đó dư ra 29 vé không có ghế ngồi. Hãng máy bay tính rằng tuy phải đền bù thiệt hại cho hành khách bị nhỡ chuyến, nhưng bù lại nhờ có số vé bán dôi ra, nói đúng hơn là số vé trùng (hai vé cùng một chỗ), mà giảm được đáng kể số ghế bỏ trống trong các chuyến bay (hầu như chuyến bay nào cũng có những hành khách đã giữ chỗ nhưng vào phút cuối cùng lại bỏ chỗ, nếu có vé trùng thì những chỗ đó không phải bỏ trống). Đó là cách overbooking được áp dụng khá phổ biến ở nhiều hãng máy bay để khắc phục lãng phí phát sinh do việc hành khách được phép bỏ chỗ đã giữ trước mà không bị phạt. Nói chung cách bán vé này có lợi cho hãng máy bay mà hành khách thường cũng chấp nhận được. Tuy nhiên nó phải dựa trên tính toán chặt chẽ tỉ lệ số vé gĩư chỗ trùng trong mỗi chuyến bay và số tiền đền bù cùng những chi phí thu xếp cho khách đổi chuyến bay, để đảm bảo có lợi cho hãng máy bay mà hành khách vẫn có thể chấp nhận được, thậm chí hài lòng. Việc đáng tiếc ở Nội bài là do không nghiên cứu kỹ điều kiện cụ thể của chúng ta để tính toán tỉ lệ số vé trùng cho phép và mức đền bù thoả đáng.

Một vài ví dụ nói trên đủ cho thấy muốn có năng suất cao không chỉ cần có công nghệ, thiết bị tân tiến, mà còn cần biết áp dụng nhiều phương pháp phân tích, tính toán khoa học để hợp hoá các quy trình và tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh. Ngay cả khi có thể mua các phần mềm có sẵn trên thị trường để xử lý các vấn đề quản lý tác nghiệp cũng vẫn cần nghiên cứu cách sử dụng thích nghi với các điều kiện cụ thể của ta. Chính vì vậy mà nhiều xì nghiệp, công ty ở nước ngoài đều coi trọng việc đầu tư nghiên cứu cải tiến, hợp lý hoá các tổ chức, quản lý (một lần được hãng Toshiba ở Tokyo mời đến thuyết trình mốt số nghiên cứu về tối ưu, tôi rất ngạc nhiên thấy số người dự nghe rất đông - đông hơn cả ở xêmina tại ĐH Công nghệ Tokyo trước đó; hỏi ra mới biết hãng có cả một trung tâm khá quy mô nghiên cứu áp dụng vận trù học).

5. Cuối cùng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế phải bắt đầu và phải dựa trên việc liên tục nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành các sản phẩm cơ bản: địên, nước, bưu chính, viễn thông, giao thông thông vận tải, v.v.., vì mọi ngành đều phải sử dụng sản phẩm của các ngành cơ bản này. Đồng thời phải giảm đến mức tối thiểu các chi phí hành chính (tiền bạc, thời gian) mà bất cứ ngành kinh doanh nào cũng không tránh được. Hiện nay, theo ý kiến của hầu hết doanh nhân ngoại quốc, đó là điểm rất yếu kém của chúng ta do tình trạng độc quyền trong kinh doanh các dịch vụ cơ bản và do cung cách quản lý nhiêu khê của bộ máy hành chính cồng kềnh mà ít hiệu quả.
Nói gì thì nói, năng suất, chất lượng của các ngành cơ bản và bộ máy hành chính còn trì trệ thì con đường đi lên kinh tế tri thức còn nhiều chông gai.

GS. Hoàng Tụy
(Theo VPC)

 
THÀNH VIÊN
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
ĐĂNG NHẬP


BÌNH CHỌN
Bạn thấy trang này như thế nào ?