| Tăng Năng suất là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội với tốc độ cao và bền vững |
|
|
|
| Người đăng: Administrator | |
| 11/06/08 14:35 | |
|
Từ những năm 90 của thế kỷ 20 về trước, năng suất được hiểu I. Năng suất theo cách tiếp cận mới 1. Từ những năm 90 của thế kỷ 20 về trước, năng suất được hiểu và áp dụng ở Việt Nam theo khái niệm truyền thống, năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động và thường được quan tâm, tính toán bằng số lượng hay khối lượng sản phẩm tạo ra hoặc tổng giá trị sản xuất-dịch vụ tạo ra trên một lao động hay giờ lao động. Năng suất truyền thống định hướng theo các yếu tố đầu vào, chủ yếu là lao động, nguyên vật liệu, thiết bị và giải pháp nhằm đạt mục tiêu tăng năng suất là tăng đầu ra và giảm đầu vào. Cách tiếp cận này không còn thích hợp với kinh tế thị trường, kinh tế phát triển trên nền tảng công nghệ tiến bộ, phát triển theo chiều sâu. 2. Từ năm 1995-1996 lại đây, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), Việt Nam đã dần tiếp nhận khái niệm và một số chỉ tiêu tính toán năng suất theo cách tiếp cận mới. Đặc điểm của cách tiếp cận mới này là: Định hướng theo các kết quả của Đầu ra, hướng tới nhu cầu của thị trường và giảm lãng phí trong mọi hình thức chứ không là chỉ giảm Đầu vào. Bản chất của vấn đề ở đây là tăng thêm giá trị, do đó không chỉ sử dụng hợp lý, tiết kiệm Đầu vào mà còn chú trọng chất lượng và tính hữu ích của Đầu ra. Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải vất vả hơn. Nguồn nhân lực và khả năng tư duy của con người đóng vai trò quan trọng trong việc đạt năng suất cao hơn và hành động là kết quả của quá trình tư duy. Vốn và công nghệ là quan trọng nhưng chính con người với khả năng tư duy và kỹ năng cao là yếu tố quyết định nhất. Năng suất không chỉ là năng suất bộ phận như năng suất lao động, năng suất vốn, mà còn là năng suất chung (TO/TI), năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Năng suất chỉ có ý nghĩa thực sự khi được tính theo giá trị gia tăng (AV). Chỉ khi có được AV và hàm lượng AV (AV/TO) cao thì mới có hiệu quả thực sự, tức có nguồn để tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ, tăng thu nhập cho người lao động... Năng suất được coi là biểu hiện cho cả hiệu lực và hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu, vì năng suất cao nhưng không được lãng phí tài nguyên và hủy hoại môi trường, phải là năng suất xanh tức là năng suất được tạo ra trong các hệ thống sản xuất sạch. Đặc biệt năng suất theo cách tiếp cận mới không đối lập mà đồng hướng, cùng tạo nên hiệu quả với chất lượng. Chất lượng hóa các yếu tố và các quá trình là điều kiện để tăng năng suất với tốc độ cao và ổn định, bền vững. 1. Định hướng mục tiêu Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội nhấn mạnh tăng GDP / người. Tuy mức tăng GDP cao (khoảng 7% năm từ năm 2001 tới nay), nhưng GDP / người còn thấp so với các nước (trên 500 USD / người năm 2004), chất lượng phát triển còn thấp, cụ thể là AV tuyệt đối và AV / TO còn thấp. Đây cũng chính là mục tiêu hướng tới của phát triển kinh tế-xã hội trong những năm tới (đạt khoảng 1000 USD / người năm 2010 và 2000 USD / người năm 2020) Trong cả quản lý vi mô và vĩ mô, ít nhất cần quan tâm tới thúc đẩy tăng năng suất thể hiện ở các chỉ tiêu quan trọng như:
2. Giải pháp Cần thống nhất quan điểm và phổ biến sâu rộng kiến thức và kỹ năng về tính và đánh giá năng suất theo cách tiếp cận mới, đặc biệt là trong hệ thống thống kê, kế hoạch-đầu tư, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, trong các trường đào tạo về quản lý kinh tế-kỹ thuật Trước hết ở cấp doanh nghiệp và cấp Ngành sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ cần thiết lập các chương trình, các dự án phát triển năng suất với mục tiêu chính là tăng AV và AV / TO bằng các giải pháp tương thích Cùng với quá trình cải cách công tác thống kê, đề nghị chính phủ đưa các chỉ tiêu tính và đánh giá năng suất theo cách tiếp cận mới vào hệ thống các chỉ tiêu hướng dẫn tính toán báo cáo của các doanh nghiệp và hệ thống các chỉ tiêu tính toán đánh giá chung cho các ngành sản xuất dịch vụ và có thể với cả nền kinh tế quốc dân. Nên có sự phối hợp giữa Tổng cục Thống kê (Viện Khoa học Thống kê) với Bộ Khoa học-Công nghệ (Tổng cục TC-ĐL-CL) tổ chức tính toán, đánh giá, công bố mức tăng năng suất trên một số chỉ tiêu chính phục vụ cho cả quản lý vĩ mô và vi mô trong định hướng mục tiêu, xác định chính sách thực thi các giải pháp. Đây cũng là nhu cầu trao đổi thông tin của APO, của Liên Hiệp quốc mà Việt Nam có nghĩa vụ phải đáp ứng. Riêng về TFP, rất cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, phân tích để sớm có thể tính toán, đánh giá tương đối chính xác về sự đóng góp ngày càng quan trọng của nó trong tăng năng suất nói chung và có thể tính được phần đóng góp của riêng từng yếu tố như R-D, đổi mới công nghệ, chất lượng hóa lao động, đổi mới phương thức quản lý. (Theo VPC) |














và áp dụng ở Việt Nam theo khái niệm truyền thống, năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động và thường được quan tâm, tính toán bằng số lượng hay khối lượng sản phẩm tạo ra hoặc tổng giá trị sản xuất-dịch vụ tạo ra trên một lao động hay giờ lao động. Cách tiếp cận này không còn thích hợp với kinh tế thị trường, kinh tế phát triển trên nền tảng công nghệ tiến bộ, phát triển theo chiều sâu.
