| Lạm phát nhìn từ năng suất lao động |
|
|
|
| Người đăng: Administrator | |
| 19/08/08 16:26 | |
|
Năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam năm 2007 đạt 2,9 triệu đồng/người/năm. Đó là Tăng trưởng kinh tế do ba yếu tố tác động, đó là số lượng vốn đầu tư, số lượng lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp. Năng suất các nhân tố tổng hợp là yếu tố của chất lượng tăng trưởng, bao gồm hiệu quả đầu tư và năng suất lao động. Năng suất lao động không chỉ có tác động đối với tăng trưởng kinh tế mà còn tác động đến lĩnh vực xã hội. Năng suất lao động được tính bằng GDP theo giá thực tế chia cho số lao động đang làm việc bình quân trong thời gian tương ứng với GDP (tính theo năm). Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế năm 2007 đạt 2,9 triệu đồng/người/năm. Đó là mức rất thấp, bởi nếu tính bình quân một tháng mỗi lao động làm ra chưa được 2,2 triệu đồng, tức khoảng 26,4 triệu đồng/năm, còn nếu tính bằng đô la Mỹ thì tương đương 1.610 đô la, thấp xa so với năng suất lao động của các nước trong khu vực (Brunei 60.588 đô la Mỹ, Singapore 52.268 đô la, Malaysia 14.769 đô la, Thái Lan 5.704 đô la, Indonesia 3.430 đô la, Philippines 3.407 đô la). Với năng suất thấp như trên, giá trị thặng dư chẳng còn được bao nhiêu, do đó khả năng tích lũy trong nước thấp. Mặc dù tỷ lệ tích lũy so với GDP năm 2007 của nước ta lên đến 41,65%, nhưng nếu trừ đi chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu (nhập siêu) tới 13,43%, thì tích lũy trong nước chỉ còn bằng 28,22%, thấp hơn Thái Lan, Hàn Quốc, Ấn Độ, càng thấp xa so với Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là tích lũy có một phần quan trọng còn phụ thuộc vào nước ngoài. Năng suất lao động thấp chẳng những làm cho giá trị thặng dư, tích lũy thấp mà còn làm cho tiêu dùng bình quân đầu người thấp. Nếu nhìn dưới góc độ hiệu quả, năng suất lao động thấp cũng là một trong những yếu tố làm cho lạm phát cao. Có nhiều nguyên nhân làm cho năng suất lao động thấp. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tuy đã có sự chuyển dịch nhưng còn chậm, tỷ trọng lao động làm việc trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản giảm chậm và hiện còn khá cao (54,2%), trong khi năng suất lao động của nhóm ngành này chỉ bằng 37% năng suất lao động chung và bằng 16,6% năng suất lao động nhóm ngành công nghiệp, xây dựng. Người làm trồng trọt, chăn nuôi chủ yếu lấy công làm lãi, tích lũy thấp, nay giá đầu ra tăng, nhưng chi phí đầu vào còn tăng cao hơn, lại gặp thiên tai dịch bệnh gây thiệt hại lớn. Công nghiệp tăng cao về giá trị sản xuất, nhưng lại thấp về giá trị tăng thêm (17,3% so với 10,8%) do chi phí trung gian cao, tính gia công còn lớn. Nhóm ngành dịch vụ tuy đã tăng cao hơn tốc độ chung, nhưng vẫn chủ yếu là thương nghiệp thuần túy, các dịch vụ có giá trị gia tăng cao nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ, còn mang nặng tính kiêm nhiệm, nên tính chuyên nghiệp không cao và năng suất lao động bị giảm tương đối (tỷ trọng về lao động tăng từ 17,4% năm 1995 lên 25,9% năm 2007 nhưng tỷ trọng về GDP lại giảm tương ứng từ 44,06% xuống còn 38,12%). Chất lượng lao động hiện là hạn chế, là "nút cổ chai" lớn nhất hiện nay. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tuy đã tăng lên qua các năm, nhưng tăng chậm và còn thấp xa so với mục tiêu đề ra cho đến năm 2010 (40%). Nếu chỉ tính số có bằng cấp thì con số này còn thấp hơn nữa. Về cơ cấu đào tạo, Việt Nam luôn ở trong tình trạng thiếu thợ hơn thiếu thầy (tỷ lệ của thế giới là 1 cao đẳng, đại học/4 trung cấp chuyên nghiệp/10 đào tạo nghề, còn của Việt Nam tương ứng là 1/0,98/3,02) (Theo TBKTSG) |













mức rất thấp so với năng suất lao động của các nước trong khu vực.
