|
Sự bùng nổ về kinh tế cũng đã dẫn tới tình hình suy thoái môi trường ở từng quốc gia, và đặc biệt đáng lo ngại là đã gây ra những vấn đề môi trường mang tính toàn cầu, không những chỉ ảnh hưởng tới một quốc gia, mà có ảnh hưởng quy mô lớn tới mọi quốc gia trên hành tinh chúng ta; không những ảnh hưởng tới thế hệ ngày nay, mà còn ảnh hưởng tới các thế hệ tương lai nữa. Những diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình khí hậu thế giới, đặc biệt tình hình ác liệt của thiên tai đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhiều quốc gia trên thế giới, bất kể nước PT hay ĐPT. Để giải quyết vấn đề này, không những cần có sự nỗ lực của mỗi nước, mà còn cần những nỗ lực chung và sự hợp tác toàn cầu.
Từ giữa thế kỷ trước, với sự phát triển mạnh mẽ của KH và CN và sự bùng nổ của nền kinh tế thế giới, việc giao lưu giữa các nước trở nên nhanh chóng và nhộn nhịp, và các nước, không kể lớn nhỏ, giàu nghèo, cũng càng ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau hơn, với sự khống chế những thị trường quan trọng do các công ty xuyên quốc gia hùng mạnh đang chi phối và cạnh tranh quyết liệt với nhau. Vấn đề hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá thương mại trở thành một xu thế chung, mặc dù nó có thể có cả những tác động tích cực và tiêu cực. Ngày nay, một quốc gia khó có thể đứng biệt lập ra ngoài xu thế đó mà phát triển nhanh chóng được. Nước ta cũng đang trong quá trình chuẩn bị để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Mặt khác, sự bùng nổ về kinh tế cũng đã dẫn tới tình hình suy thoái môi trường ở từng quốc gia, và đặc biệt đáng lo ngại là đã gây ra những vấn đề môi trường mang tính toàn cầu, không những chỉ ảnh hưởng tới một quốc gia, mà có ảnh hưởng quy mô lớn tới mọi quốc gia trên hành tinh chúng ta; không những ảnh hưởng tới thế hệ ngày nay, mà còn ảnh hưởng tới các thế hệ tương lai nữa. Những diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình khí hậu thế giới, đặc biệt tình hình ác liệt của thiên tai đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhiều quốc gia trên thế giới, bất kể nước PT hay ĐPT. Để giải quyết vấn đề này, không những cần có sự nỗ lực của mỗi nước, mà còn cần những nỗ lực chung và sự hợp tác toàn cầu. Vì vậy, các nguyên thủ quốc họp tại Rio de Janeiro năm 1992 và Johannesbourg năm 2002 đã chấp nhận quan điểm phát triển bền vững (PTBV) và cam kết thực hiện Chương trình nghị sự Agenda 21 thể hiện quan điểm này, tức là sự kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Chính phủ nước ta đã tham dự cả hai cuộc họp thượng đỉnh quan trọng đó và cũng cam kết thực hiện quan điểm PTBV và Agenda 21. Những văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, như Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng CSVN, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Định hướng chiến lược phát triển bền vững, đã cụ thể hoá quan điểm PTBV phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt nam, cùng những biện pháp và hành động cụ thể trong việc thực hiện. Hai xu thế chủ yếu --- toàn cầu hoá và PTBV--- sẽ mang lại cả những cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển (ĐPT) nói chung và các doanh nghiệp tại các nước này nói riêng. Quá trình hội nhập kinh tế thế giới của nước ta cũng nằm trong bối cảnh đó.
Điều thuận lợi quan trọng nhất là, với sự xoá bỏ hàng rào thuế quan, ta có nhiều cơ hội hơn để thâm nhập thị trường cấc nước và thị trừơng thế giới, nhân đó cũng phát huy tối đa thế mạnh của ta về tài nguyên và lao động (tuy rằng cũng phải thừa nhận là chất lượng lao động chưa cao). Trong lĩnh vực nông nghiệp, đã có sự tranh cãi và đấu tranh triền miên về việc các nước phát triển (PT) trợ cấp cho nông nghiệp của họ, gây rất nhiều bất lợi cho các nước ĐPT trên thị trường thế giới và ngay cả trên thị trường nội địa. Tin tức cho biết, Cộng đồng châu Âu đã trợ cấp hàng năm cho nông nghiệp khoảng 43 tỷ euro, tương đương với 51 tỷ USD. Sau không biết bao nhiêu vòng đàm phán, nay các nứơc PT, về nguyên tắc, đã chấp nhận, trong vòng vài năm tới sẽ cắt bỏ trợ cấp cho sản phẩm nông nghiệp. Đó cũng mới là thắng lợi bước đầu. Điều thuận lợi thứ hai là, với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của công nghệ tin học và viễn thông, các nước ĐPT có điều kiện lựa chọn đối tác, lựa chọn công nghệ một cách thích hợp, và có thể học hỏi rút kinh nghiệm kịp thời từ thực tiễn của các nước khác. Điều thuận lợi thứ ba là, với sự tăng trưởng kinh tế, các nước ĐPT có thể kết hợp giải quyết từng bước các vấn đề xã hội, như việc làm, xoá đói giảm nghèo..., cũng như đầu tư từng bước giải quyết các vấn đề môi trường ưu tiên, nhất là cái gì liên quan đến sức khoẻ cộng đồng và chất lượng sản phẩm. Như vậy là lồng ghép được ba yêu cầu về kinh tế, xã hội và môi trường, ba trụ cột của PTBV.
Tuy nhiên, cũng còn vô vàn các thách thức không kém phần quyết liệt. Trước hết, tuy các hàng rào thuế quan được xoá bỏ, nhưng các hàng rào mới lại được dựng lên, nhất là trong hoàn cảnh trật tự kinh tế thế giới còn nhiều bất bình đẳng và không công bằng. Thí dụ, các nước nhập khẩu có thể nâng cao yêu cầu về chất lượng sản phẩm, an toàn của sản phẩm về mặt môi trường, và hạn chế việc sử dụng các nguyên vật liệu nào đó trong sản xuất. Mà để giải quyết những đòi hỏi này, thường là lại phải nhập công nghệ hoặc nguyên liệu từ các nước đó với giá đắt, làm cho giá thành nâng cao, giảm tính cạnh tranh của sản phẩm. Họ còn có thể áp đặt một cách vô lý và độc đoán những quy định về pháp luật của họ. Có khi đưa nhau ra kiện tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng họ vẫn không chấp nhận kết luận của WTO, thí dụ vụ kiện về tôm giữa Thái lan, Malayxia và Hoa kỳ mấy năm trước đây. Hoa kỳ viện lý do là cách đánh bắt tôm của Thái lan và Malayxia làm hại tới loài rùa biển (một lý do về môi trường). Ngay như khi các nước ĐPT có ưu thế về sản phẩm, thế mà vẫn bị "đánh" bằng những thủ đoạn khác. Thí dụ sự kiện gần đây nhất, Việt nam có ưu thế trong sản xuất tôm (công nghệ tiên tiến, nhân công rẻ, điều kiện thiên nhiên thuận lợi), thế nhưnglại bị kiện là bán phá giá. Đó chẳng qua là một hình thức trá hình của chú nghĩa bảo hộ và là một hành vi không công bằng trong buôn bán quốc tế. Một điểm yếu cũng đồng thời bộc lộ ở đây, đó là ta còn thiếu những hiểu biết đầy đủ về luật pháp và kinh nghiệm trong thương mại quốc tế.
Thách thức không kém phần nghiêm trọng sẽ xảy ra ngay trên thị trường nội địa nước ta, khi những biện pháp bảo hộ bị gỡ bỏ, hàng tiêu dùng của nước ngoài ồ ạt nhập vào thị trường, đa số với giá rẻ hơn, chất lượng hoặc hình thức hấp dẫn hơn, chưa kể đến tâm lý hiếu kỳ, chuộng hàng ngoại của không ít người tiêu dùng Việt nam. Đối với các mặt hàng có tính chiến lược hơn, như sắt thép, xi măng. đường, giấy, phân bón vv..., theo đánh giá của Bộ Tài chính (Báo Lao động, 4-1-2003), thì khả năng cạnh tranh của ta còn yếu, chủ yếu vì giá thành và giá bán đều cao. Ngoài ra, nhìn về lâu dài, muốn PTBV, dù sớm hay muộn, ta cũng cần xem xét để đưa vào giá thành các chi phí cần thiết cho tài nguyên và môi trường. Nếu không như vậy thì dưới sức ép của thương mại quốc tế, nước ta, cũng như các nước ĐPT khác sẽ lao vào khai thác tài nguyên một cách không bền vững, dẫn tới những hậu hoạ khác trong tương lai. Nhưng việc tính toán chi phí về tài nguyên và môi trường cũng sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng thêm. Đứng trước các cơ hội và thách thức, con đường phát triển của doanh nghiệp nước ta đương nhiên là phải tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua các thách thức. Tiêu chí trước tiên và quan trọng để phấn đấu là vấn đề năng suất. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, chỉ nêu năng suất không thôi, có lẽ chưa thật đầy đủ để dáp ứng các yêu cầu và thách thức của thị trường. Con đường để hướng tới có thể phải là : năng suất cao, chất lượng tốt, lành mạnh về môi trường. Ngoài các yếu tố mà ta thường đề cập là năng suất và chất lượng, thì yếu tố lành mạnh về môi trường sẽ càng ngày càng có vai trò quan trọng trong cạnh tranh. Lành mạnh về môi trường có thể bao gồm nhiều nội dung, như: sử dụng nguyên vật liệu an toàn đối với sức khoẻ con người, công nghệ thân thiện môi trường sản sinh ra ít hoặc không có chất thải, sản phẩm an toàn đối với người tiêu dùng, có biện pháp xử lý các chất thải sau khi sản phẩm được tiêu dùng vv...Biện pháp và công cụ để đạt được các yêu cầu đó chỉ có thể là: đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý.
Nếu hiểu "Năng suất xanh " theo nghĩa rộng thì cũng có thể bao quát hướng phát triển trong tương lai. Và đó cũng là con đường có tính chất sống còn của các doanh nghiệp nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Về biện pháp, thì đổi mới công nghệ là yếu tố then chốt nhất. Mà về mặt này, chúng ta còn phải cố gắng phấn đấu nhiều. Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, thiết bị máy móc hiện có của các doanh nghiệp Việt nam hiện nay lạc hậu hơn so với thế giới từ 10 đến 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30-50%. Để sản xuất ra 1 tấn thép, các doanh nghiệp Việt nam cần 800-1000 kWh điện, trong khi mức trung bình trên thế giới là 300-500 kWh. Phế phẩm trong ngành cơ khí của ta chiếm tới 20-30%, còn trên thế giới khoảng 5%. Để sản xuất 1 kWh điện chạy than, ta cần tiêu hao tới 2700 kCal, trong khi các nước khác chỉ cần 1900 kCal. Trong các ngành côngngiệp nhẹ, mức tiêu hao vật chất tại các doanh nghiệp Việt nam cao hơn mức của thế giới 20-30%. Tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị của ta hàng năm chỉ đạt 8-10%, trong khi ở nhiều nước trong khu vực, tỷ lệ đó đạt 15-20%/năm. Chi phí đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nước ta rất nhỏ, chỉ chiếm 0,2-0,3% doanh thu, so với thế giới là 5-10%.
Từ những thành công của một số ngành và doanh nghiệp Việt nam, như dầu khí, viễn thông, giầy dép, thuỷ sản, may mặc, đóng tầu, có thể thấy, con đường duy nhất là đổi mới công nghệ và có thể đổi mới được công nghệ. Sản xuất sạch hơn, sản xuất sạch, năng suất xanh...đều là hướng tới những công nghệ tiêu hao ít năng lượng hơn, ít nguyên vật liệu hơn, sản sinh ra ít hơn hoặc không có chất thải bằng cách tái sử dụng, tái chế các chất thải. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, để khắc phục mối lo ngại lớn về an toàn thực phẩm, nhiều nước đã đẩy mạnh nền nông nghiệp hữu cơ mang lại nhiều hiệu quả và lợi nhuận, vì người tiêu dùng hiện nay có xu thế chấp nhận những nông sản phẩm an toàn với giá bán cao hơn. Đổi mới tổ chức quản lý cũng hết sức quan trọng. Đó cũng là vấn đề năng suất và hiệu suất trong tổ chức quản lý, và cũng đòi hỏi đổi mới công nghệ trong lĩnh vực này. Vấn đề rau sạch có thể là một thí dụ. Bây giờ hầu như đâu đâu cũng nói sản xuất rau sạch. Nhà nước đã hỗ trợ khá nhiều tiền để nghiên cứu công nghệ, sản xuất thử. Một số xã và hộ gia đình cũng đã đầu tư sản xuất rau sạch. Nhưng phải nhận thấy là thị trường rau sạch chưa thực sự hình thành một cách bình thường, vì chỉ chú ý đầu tư cho vấn đề công nghệ sản xuất nhiều hơn, còn việc tổ chức quản lý phân phối và tiêu dùng thì bất cập. Cho nên, tuy có nhu cầu, mà người tiêu dùng vẫn chưa tin tưởng rằng liệu mình bỏ tiền ra, chịu giá đắt hơn, nhưng có thực sự là mua được rau sạch hay không. Việc quan trọng là đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp. Nếu làm tốt được việc này thì cũng có thể khắc phục được những khó khăn trong đổi mới công nghệ mà các doanh nghiệp thường gặp phải, đó là thiếu thông tin về công nghệ, thiếu vốn, thiếu nhân lực giỏi chuyên môn nghiệp vụ. Những khó khăn đó tạo nên một vòng luẩn quẩn : "công nghệ lạc hậu---doanh thu thấp---thiếu vốn đổi mới công nghệ---công nghệ lạc hậu..." Phải có cách tìm những khâu chủ yếu và tập trung vốn giải quyết trước. Đã có những gương thành công. Xã Bát tràng đã có nghề gốm nổi tiếng, nhưng càng phát triển, càng ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ nhân dân cả xã. Nhiều hộ đã đầu tư dùng khí thiên nhiên thay cho than. Kết quả là không những môi trường được cải thiện, mà chất lượng sản phẩm được nâng cao, tỷ lệ phế phẩm giảm, doanh thu và lợi nhuận tăng, chưa kể là nhờ vậy mà đã phát triển được du lịch làng nghề. Cũng có doanh nghiệp đồ gốm khác, chỉ thay đất sét nâu truyền thống bằng đất sét đen mà đã thu hút được nhiều khách hàng hơn, vì đã đưa ra thị trường sản phẩm mới lạ. Rút cục, vấn đề then chốt vẫn là con nguời, mà trước hết là những ông chủ thật sự của các doanh nghiệp. Nếu những ông chủ thật sự này có tầm nhìn và có năng lực, biết dùng người, thì họ sẽ nắm được chìa khoá đi vào tương lai, đủ sức tận dụng các cơ hội và vượt qua những thách thức.
Lê Quý An Chủ tịch Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam
(Theo VPC) |