| Yếu tố con người đối với sự tăng trưởng nhanh chóng và bền vững |
|
|
|
| Người đăng: Administrator | |
| 29/05/08 16:09 | |
|
Trong những năm gần đây, Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế. Theo Tổng cục thống kê, tỷ lệ tăng trưởng GDP là 6.8% năm 2000, 6.9% năm 2001, 7.0% năm 2002 và 7.2% năm 2003. Sự tăng trưởng này rất đáng khích lệ. Tôi rất vui mừng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, bởi vì hơn 10 về trước, tôi lúc đó làm đồng chủ toạ với Ngài Christian Noyer (hiện nay đang là thống đốc Banque de France) tại Hội nghị Những người bạn của Việt nam tổ chức tại trụ sở chính của Quĩ tiền tệ quốc tế vào ngày 27 tháng 9 năm 1993, cuộc họp đó đã mở đường cho việc tái hỗ trợ tài chính quốc tế cho Việt nam. Việt nam bây giờ đã trở thành một trong những nền kinh tế nổi bật của Châu Á và thế giới. 1. Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Những phát triển gần đây Trong những năm gần đây, Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế. Theo Tổng cục thống kê, tỷ lệ tăng trưởng GDP là 6.8% năm 2000, 6.9% năm 2001, 7.0% năm 2002 và 7.2% năm 2003. Sự tăng trưởng này rất đáng khích lệ. Tôi rất vui mừng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, bởi vì hơn 10 về trước, tôi lúc đó làm đồng chủ toạ với Ngài Christian Noyer (hiện nay đang là thống đốc Banque de France) tại Hội nghị Những người bạn của Việt nam tổ chức tại trụ sở chính của Quĩ tiền tệ quốc tế vào ngày 27 tháng 9 năm 1993, cuộc họp đó đã mở đường cho việc tái hỗ trợ tài chính quốc tế cho Việt nam. Việt nam bây giờ đã trở thành một trong những nền kinh tế nổi bật của Châu Á và thế giới. Nhưng không cần nói ra, chúng ta không thể thoả mãn với chính mình, GDP trên đầu người quá thấp, chỉ khoảng 500 USD (theo Tổng cục thống kê). Như vậy, vẫn còn con đường dài phía trước. 2. Kinh nghiệm của Nhật Bản Tại đất nước của tôi, Nhật Bản, có những kinh nghiệm quí báu về sự phát triển nhanh và được duy trì trong thời gian dài. Giai đoạn phát triển kinh tế nhanh Trong 18 năm, từ 1956 và 1973, nền kinh tế Nhật Bản tăng bình quân 9.4% / năm. Nếu bạn mất 10 năm, từ 1961 and 1970, tỷ lệ tăng trung bình là 2 con số 10.2%. GDP trên đầu người tăng từ $292 trong năm 1956 thành $3,805 trong năm 1973. Làm sao có thể duy trì nền kinh tế phát triển trong thời gian dài như vậy từ cuối những năm 1950, những năm 60 và đầu những năm 70? Chúng ta hãy nhìn qua điều kiện ban đầu cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản. Do vậy, chúng tôi hầu như phải sử dụng nguồn nhân lực để xây dựng lại và phát triển nền kinh tế. Hồi tưởng lại, chúng tôi có thể nói rằng, điều này đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước. Nhưng vào thời kỳ đó, điều kiện thật bi đát. Cải tiến năng suất Trước hết, chúng tôi nghĩ nguồn lao động rẻ là vũ khí của chúng tôi. Với các lợi thế về nguồn nhân công rẻ và rồi dào, chúng tôi cố gắng sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm may mặc, đồ chơi và các sản phẩm công nghiệp nhẹ, và theo thời gian chúng tôi phát triển các ngành công nghiệp mang lại giá trị cao hơn. Nhưng vấn đề là năng suất trong các ngành của chúng tôi rất thấp. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế sau chiến tranh, công nghệ của chúng tôi bị bỏ lại rất xa. Nguồn lao động bị tàn phá trên khắp nước Nhật sau chiến tranh. Năng suất rất thấp. Phong trào năng suất đã giữ vai trò quan trọng giúp cải thiện những bất đồng về lao động. Khái niệm về kỹ nghệ công nghiệp được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tại các công ty Nhật Bản. Sự liên kết giữa triết lý quản lý mới và công nghệ tiên tiến đã có đóng góp rất lớn vào công cuộc cải tiến năng suất. Kaizen, hay các nỗ lực không ngừng cải tiến năng suất đã trở thành khẩu hiệu quen thuộc của người công nhân. Cải tiến công nghệ của các ngành công nghiệp Nhật bản những ngày đó thật đáng nhớ. Giáo sư Dale W. Jorgenson của Trường Đại học Harvard đã phân tích sự phát triển của nền kinh tế Nhật bản trong giai đoạn 1960-79 trong cuốn sách ‘So sánh quốc tế về sự tăng trưởng kinh tế' như sau: "...đầu tư vào nguồn nhân lực thông qua việc nâng cao giáo dục và đào tạo cho lực lượng lao động Nhật bản là một đóng góp rất quan trọng cho việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng hai con số..." Qua thời gian, Nhật bản trở thành nhà sản xuất hàng hoá chất lượng cao với chi phí thấp. Điều này được thực hiện thông qua năng suất cao hơn chứ không phải là nguồn lao động rẻ. Nguồn tài chính nội địa dành cho phát triển Làm sao để các tiến bộ công nghệ trở nên khả thi? Có phải chỉ đơn thuần từ phong trào năng suất? Hoàn toàn không. Chúng ta cần rất nhiều vốn. Như đã ở trên, hầu hết các nhà máy đều bị tàn phá trong chiến tranh. Việc xây dựng các nhà máy mới với các thiết bị tiên tiến đòi khỏi khoản đầu tư lớn, nhưng nguồn vốn thì thực sự có giới hạn. Nguồn tài sản tài chính thất thoát trong chiến tranh và do tỷ lệ lạm phát cao. Thị trường vốn quốc tế nhỏ, và lòng tin vào các doanh nghiệp Nhật bản rất thấp, chúng tôi không thể dựa hoàn toàn vào các nguồn vay từ nước ngoài để đầu tư. Chúng tôi tìm kiếm các nguồn vốn ngay trong nước. Nhưng mức tiết kiệm nội địa cũng rất thấp. Một lần nữa, yếu tố con người lại giữ một vai trò rất quan trọng. Nhằm phát triển nền kinh tế tài chính nội địa, chúng tôi đã phải tìm ra cơ chế, trước hết đó là tiết kiệm và sau đó là chuyển các khoản tiết kiệm đó thành các khoản đầu tư. Chính phủ ban hành qui định chuyển các khoản thuế hộ gia đình thành các khoản tiết kiệm cho họ. Chính phủ cũng cho phép chuyển các khoản thuế của các công ty tư nhân thành các khoản đầu tư của họ. Chính phủ đã có những nỗ lực để cải thiện lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, sao cho mọi người gửi các khoản tiết kiệm của mình vào ngân hàng hay các quĩ tín dụng khác, lớn hoặc nhỏ. Các ngân hàng và các quĩ tín dụng được khuyến khích cấp vốn cho các lĩnh vực mũi nhọn. Trong bối cảnh này, tất nhiên sự phát triển của nền kinh tế Nhật bản không hoàn toàn dựa vào các khoản tiết kiệm nội địa. Chúng tôi cũng sử dụng các khoản vay của Ngân hàng thế giới và Quĩ tiền tệ quốc tế. Chúng tôi nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ các tổ chức này. Nhưng những nguồn tài chính bên ngoài này sẽ hiệu quả hơn khi sự phát triển kinh tế phần lớn được cấp vốn từ các nguồn quĩ nội địa. 3. Các yếu tố quan trọng đối với sự phát triển bền vững Chúng ta có thể rút ra được một số kinh nghiệm từ kinh nghiệm của chúng tôi tại Nhật Bản. Sự phát triển kinh tế cao sẽ bền vững hơn khi (1) Sự phát triển này được truyền lực từ sự phát triển năng suất Tổ chức Năng suất Châu á (APO), nơi tôi làm việc với tư cách Giám đốc NPO Nhật bản, được thành lập vào năm 1961. Nhật bản đã có sáng kiến thành lập tổ chức này, dựa trên kinh nghiệm của riêng mình. Sự phát triển năng suất là chìa khoá cho sự bền vững của sự phát triển kinh tế. Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) được thành lập vào năm 1966. Tôi cũng đã tham sự và quá trình thành lập trong giai đoạn chuẩn bị, sau đó là trợ lý cho Chủ tịch đầu tiên của ADB. Mục đích của ngân hàng là trợ giúp cho sự phát triển của các nước đang phát triển. Nhật bản cũng đã có sáng kiến thành lập ngân hàng này với các kinh nghiệm của mình về phát triển kinh tế sau chiến tranh. Các nguồn tài chính hỗ trợ từ bên ngoài sẽ rất hiệu quả khi nó được xem là các khoản bổ sung và sự phát triển về cơ bản nên dựa và các nguồn vốn trong dân. 4. Các tình huống mới và các thử thách mới Không cần phải nói, vấn đề hiện tại của Việt nam đang phải xử lý không giống với những gì mà Nhật bản đã gặp phải trong những năm 1950, 1960 và 1970. Tình hình quốc tế đã có những thay đổi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Toàn cầu hoá thị trường tài chính Trước hết, sự toàn cầu hoá của thị trường tài chính. Các dòng vốn tư nhân xuyên quốc gia tăng lên nhanh chóng. Các nền kinh tế mới được hưởng lợi từ những nguồn vốn này. So với kinh nghiệm trước đây của Nhật bản, hầu hết các nền kinh tế nổi bật đều có thể sử dụng các nguồn tài chính bên ngoài dễ dàng hơn trong việc cấp vốn cho sự phát triển kinh tế của họ. Nhưng không có gì là hoàn hảo. Mọi vấn đề luôn có hai mặt của nó. Sự toàn cầu hoá của thị trường tài chính có thể làm nảy sinh các rủi ro mới về sự không ổn định. Các dòng vốn tư nhân không phải lúc nào cũng ổn định. Các dòng vốn hướng tâm có thể đảo ngược bất ngờ khi có những vấn đề xảy ra, như chúng ta đã chứng kiến trong cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu á vào năm 1997-98. Trong bối cảnh này, nền kinh tế sẽ bị ít tổn thất hơn nếu như sự phát triển kinh tế này được cấp vốn từ những nguòn vốn trong dân. Thứ 2 là vấn đề môi trường. Với sự phát triển của nền kinh tế, sự huỷ hoại môi trường đang trở thành vấn đề lớn không chỉ đối với mỗi quốc gia mà còn đối với cả hành tinh chúng ta. Khi một quốc gia duy trì tỷ lệ phát triển cao, họ cần thiết phải xử lý các vấn đề về môi trường. Nhật Bản cũng phải đối mặt với vấn đề này rất sớm, khi sự tăng trưởng đang tiến triển. Quá trình công nghiệp hoá nhanh đi cùng với ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Tổ hợp công nghiệp hoá-dầu Asthma tại thành phố Yokkaichi đã làm mất hình ảnh của mình khi gây ra thảm hoạ vào năm 1972. Kể từ đó, các nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm không khí đã được thực hiện. Chính phủ đã ban hành một số luật lệ về bảo vệ môi trường. Rất nhiều khoản đầu tư cho việc giảm thiểu ô nhiễm. Ngày nay Yokkaichi được biết đến như là một thành phố cảng trong lành. Các nền kinh tế đang phát triển tại Châu Á đang tăng trưởng nhanh. Nhưng sự phát triển nhanh này có thể được thừa nhận hay không thừa nhận. Trừ khi chúng ta phải xử lý các vấn đề về suy thoái môi trường, nếu không sớm hay muộn thì tốc độ phát triển có thể sẽ chậm lại. APO đã và đang quảng bá khái niệm về năng suất xanh. Nó tích hợp hai yếu tố của phát triển kinh tế: đó là cải tiến năng suất và bảo vệ môi trường. Tôi hy vọng rằng khái niệm này sẽ được phổ biến khắp Châu Á. Phân phối thu nhập công bằng Thứ ba, phân phối thu nhập hay các vấn đề đói nghèo. Sự phát triển kinh tế nhanh không cần thiết phải giải quyết các vấn đề xã hội như vấn đề đói nghèo. Nhưng lịch sử cho chúng ta thấy rằng có một số trường hợp sự phân phối thu nhập công bằng đạt được cùng với sự phát triển kinh tế nhanh. Phân phối thu nhập tại Nhật bản được duy trì sự ngang bằng hay thậm chí được cải tiến trong giai đoạn phát triển kinh tế cao. Điều này sẽ không có được nếu thiếu các nỗ lực không ngừng. Trong những năm gần đây, việc giảm nghèo đói đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất đối với các nền kinh tế đang phát triển. Nếu chúng ta muốn duy trì tỷ lệ phát triển cao, chúng ta phải đẩy mạnh các nỗ lực của mình để sử lý vấn đề về sự mất cân bằng về thu nhập. Sự phát triển kinh tế xã hội cũng là chìa khoá cho sự phát triển bền vững. 5. Kết luận Hôm nay, chúng ta tập trung ở đây để xem xét về tương lai. Trong tương lai, chính phủ Việt Nam đã đăt mục tiêu gấp đôi GDP trong 10 năm từ 2000 đến 2010 và biến Việt nam thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Để đạt được điều này, các bạn phải duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao trong vòng 10 đến 20 năm. Khi chúng ta nghĩ về tương lai, chúng ta phải học các bài học từ quá khứ. Tôi vừa mới chia sẻ với các bạn một số kinh nghiệm của chúng tôi mà tôi tin là rất quan trọng đối với sự bền vững của tỷ lệ phát triển cao, các kinh nghiệm về phát triển năng suất, huy động nguồn tiết kiệm nội địa, bảo vệ môi trường và phân phối thu nhập công bằng. Tôi huy vọng rằng chúng có thể thích hợp khi bạn nghĩ về tương lai của mình. Việt nam với những con người cần cù chịu khó, tôi tin tưởng rằng đất nước của các bạn với các lợi thế về nguồn nhân lực sẽ đạt được tỷ lệ phát triển bền vững trong những năm tới đây.Kosuke Nakahira |















